Hứng khởi một thời “bia hơi 3 hào”
Có không ít người từng hùng hồn khẳng định: Trong cuộc sống thường ngày bình dị, về ẩm thực, Hà Nội có một ấn tượng khó phai: Đó là những vại bia hơi Hà Nội mát lạnh ngất ngây say. Bia hơi đã làm nên một nét văn hóa Hà Nội... Nhưng, đã có ai từng ngồi trước cốc bia hơi Hà Nội, ngắm nhìn những giọt bong bóng li ti bay lên từ đáy cốc hòa nhập và biến mất trong lớp bọt trắng mịn màng gợi cảm trên bề mặt bia, nhấm nháp hương vị thơm mát và tự hỏi: Bia hơi Hà Nội có từ khi nào?
Khởi thủy giòng...say
Giới “đệ tử... bia bọt” đất Hà Thành truyền tụng cho nhau nhiều lắm về “lịch sử” Nhà máy bia Hà Nội. Nào là nơi đó có nguồn nước đặc biệt, người Pháp phải khoan thăm dò ba bốn chục chục điểm ở Hà Nội, chỉ có nơi đó có nước tốt nhất để làm bia, không thua kém nước ở Tiệp, ở Pháp, Đức, chỉ cần uống nước khoan thôi đã... sướng tê người! Nào là nơi đó ngày xưa khá đẹp, Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu mỗi khi về Hà Nội đã dạo chơi quanh đó, hôn nhau thắm thiết, nhà máy bia mọc lên để kỷ niệm của những nụ hôn thắm thiết của đôi “uyên ương” đặc biệt đó! Nào là... nào là... đủ thứ “khảo dị” ở chốn “nhất bia nhì giời”!
Cũng chẳng cần biết quá rõ làm gì cho mệt cái đầu đang “nóng vì... bia”, chỉ cần biết cái nhà máy bia Hà Nội hiện nay nằm ở đường Hoàng Hoa Thám được khai sinh vào năm 1890, tuổi đời vượt quá con số 100- xứng đáng bậc “lão ông chi... bia”!
Theo tài liệu còn lưu giữ tại Tổng công ty Bia- rượu- nước giải khát Hà Nội, năm 1890, có cặp vợ chồng người Pháp lần mò tìm hiểu rồi mở một xưởng làm bia nhỏ trên núi Voi (thuộc làng Đại Yên, Ngọc Hà, Hà Nội), tên khởi thủy là nhà máy bia Hommel- nơi ngày nay là nhà máy bia Hà Nội. Thời kỳ đó, Hommel nhỏ xíu, chỉ có vài chục công nhân làm vỏn vẹn 150 lít bia hơi/ngày. Tới năm 1940, Hommel mỗi năm rót ra cho toàn cõi Đông Dương tới 5 triệu lít, chủ yếu vẫn là bia hơi... Sau năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, Hommel thuộc về tay chính quyền Hà Nội trong tình trạng “tả tơi”. Từ đầu năm 1957, Hommel được hồi sinh với tên gọi Nhà máy bia Hà Nội. Ngày 1/5/1958, mẻ bia nấu thử đầu tiên do ông Vũ Văn Bộc- một công nhân lành nghề của Hommel cũ- thực hiện thành công với sự giúp đỡ của chuyên gia Tiệp Khắc. Ngày 15/8/1958, mẻ bia chính thức đầu tiên tuôn chảy tỏa hương thơm nồng ngây ngất say, được đóng chai với cái tên: Bia Trúc Bạch. Sau đó, dòng bia các loại (bia hơi, bia chai, bia lon) với nhiều tên gọi: Hồng Hà, Hà Nội, Trúc Bạch, Hữu Nghị...- liên tục chảy ra thị trường, trong đó bia hơi được chào đón nhiệt tình nhất, dần dần trở thành một “nét văn hóa” đáng yêu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Hà Nội, một ấn tượng khó phai cho bất kỳ du khách thập phương nào đã một lần đặt chân tới Thủ đô.
Sang thế kỷ thứ 21, Công ty bia Hà Nội trở thành người khổng lồ: Tổng công ty Bia- Rượu- Nước giải khát Hà Nội, mỗi năm tuôn trào ra thị trường 70- 80 triệu lít bia các loại. Có lẽ ngay cả người Pháp- những người đầu tiên đã khơi tạo nguồn bia Hà Nội- cũng phải nghiêng mình ngưỡng mộ!
“Chuồng cọp” - hào hứng trong... gian nan
Ngày nay, ngồi thưởng thức “vô biên” những vại bia hơi Hà Nội trong các quán bia ngoài trời trong nhà rộng rãi, thoáng đãng, các quán bia sang trọng mà chỉ cách đây vài chục năm các “đệ tử bia bọt” nằm mơ cũng không thấy, nói chuyện bia “chuồng cọp” có lẽ giới trẻ sinh sau đẻ muộn không biết chiến tranh là gì chắc tưởng kể chuyện... thần thoại!
Còn với lớp người ngày nay bước vào tuổi “xưa nay hiếm” phải nhờ cậy đến “ba toong”, ắt không thể nào quên được cái thời thưởng thức bia hơi “chuồng cọp” tại Hà Nội đầy hứng thú mà cũng rất... gian nan ấy!
Không biết ai trong giới bia bọt đã nghĩ ra cái từ “chuồng cọp” khủng khiếp đó để đặt tên cho các quán bia hơi Hà Nội, nơi hứng khởi thưởng thức một thứ nước uống thơm ngon làm say lòng người? Phải chăng họ liên tưởng tới những chuồng hổ, chuồng báo trong Bách Thảo hồi đó? Gọi mãi rồi thành quen miệng.
Tại Hà Nội thời đó, các “chuồng cọp” bán bia hơi Hà Nội không nhiều, chỉ một vài “chuồng” nổi danh: Nguyễn Bỉnh Khiêm (gần công viên Thống Nhất), Cổ Tân (bên cạnh Nhà hát lớn), vườn hoa Lê Quý Đôn, Trần Hưng Đạo (sát cạnh nhà vệ sinh công cộng)... hầu như lúc nào cũng đông chật khách. Cũng chỉ có duy nhất “lò” Nhà máy bia Hà Nội rót bia hơi cho các “chuồng cọp”.
Kể ra gọi là “chuồng cọp” cũng phần nào đúng thực tế bởi các quán bia ở Hà Nội trong những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ trước đều mang đậm nét... sắt thép! Quán bia nào cũng có hàng rào sắt kiên cố bao quanh, cứ như thể là để phòng ngừa các “đệ tử bia bọt” sau khi có dăm vại bia vào bụng, bị “ma men” khuấy đảo khiến trở thành... cọp dữ! Phòng cọp hơn chống cọp, không gì chắc chắn hơn rào sắt! Trong những hàng rào sắt kiên cố đó là bãi bia. Gọi là “bãi bia” vì bàn ghế rất hiếm hoi.
“Chuồng cọp” Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu như chỉ có vài chiếc bàn chân sắt gỉ nhoèn đen sì, mặt bàn bằng đá granito sứt sẹo, nham nhở như... bàn tay ghẻ ruồi bân bẩn, khách uống bia... đứng là chính. Nhiều khách phải rút dép nhựa ra kê mông ngồi bệt xuống bãi cỏ lưa thưa, đặt bia trước mặt, tựa lưng vào hàng rào sắt, ngâm nga thưởng thức, thi thoảng lại lững thững đến cửa hầm “tăng-sê” ở góc “chuồng cọp” tự nhiên vô tư... xả bớt bia trong người ra!
“Chuồng cọp” Cổ Tân, Lê Quý Đôn “sang” hơn, có thêm dăm chiếc ghế đẩu chân cũng bằng sắt, để lỏng chỏng, cập kênh, khách vào uống bia cứ trợn mắt nhớn nhác tìm ghế, lắm khi cãi nhau vì chiếc ghế!...
Thế rồi, bia ít, người nhiều, kiếm được cốc bia phải chen chúc, xếp hàng chờ đợi, cũng mất cả cốc đầy... mồ hôi! Vậy nên, các “chuồng cọp” phát huy hết khả năng sáng tạo, đã thiết kế một hành lang ngoằn ngoèo hình chữ chi bằng những thanh sắt kiên cố, nhỏ hẹp chỉ vừa đi lọt một người, cốt để các “vị thành... cọp” phải xếp hàng trật tự, khó chen ngang. Có hai hành lang sắt như vậy, một cho người bình thường, một để ưu tiên thương binh. Lúc ấy mà ai có cái thẻ thương binh màu đỏ là... oách lắm, vừa không phải xếp hàng quá dài, vừa mua được nhiều bia hơn. Không hiếm cảnh một ông thương binh nào đó “chơi ngông” mua cả chục vại, ngồi bệt xuống cạnh hàng rào sắt, xếp cả dẫy vại bia trước mặt, nhẩn nha uống từng vại một trước sự... thèm thuồng của đám người rồng rắn xếp hàng dài loằng ngoằng!
Vẫn chưa yên tâm, có nơi như “chuồng cọp” Trần Hưng Đạo (ở cận kề nhà vệ sinh công cộng) có sáng kiến giăng sợi dây thép suốt theo hành lang sắt luồn những miếng “tích-kê” bằng sắt, người mua bia trả tiền, tay nắm lấy miếng sắt gỉ lem nhem đó (mỗi cốc là một miếng, mỗi người chỉ được mua 2-3 cốc), kéo tuột dần theo sợi dây thép đến chỗ rót bia- một diệu kế hoàn hảo triệt tiêu hoàn toàn cái sự chen ngang, mua hộ!...
Thế nên mới có câu chuyện vui (có người bảo chuyện do mấy ông nhà văn nhà thơ bịa ra trong lúc “trà dư, bia hậu”): Cố nhà thơ Quang Dũng hồi đó cũng thích bia hơi, tuy tửu lượng yếu, chỉ uống được một hai vại thôi. Một hôm, giữa mùa hè nóng nực, ông tới một “chuồng cọp”, thấy người xếp hàng rồng rắn. Ngay cả phía ưu tiên cho thương binh cũng đông nghẹt. Kiểu này khó mua nổi một vại bia để xua đi cái nóng, cái khát của mùa hè! Không lẽ cả một thời hào hùng oanh liệt “Tây tiến” chiến thắng gian khổ, không sợ hy sinh, kẻ thù phải khiếp sợ... bây giờ lại chịu thua, đầu hàng ở quán bia hơi bé xíu này chăng? Nhà thơ bèn xông lên, đứng ở ngay chỗ rót bia. Cô mậu dịch viên cau mày, xua tay đuổi quầy quậy, bắt ông xuống xếp hàng. Quang Dũng lớn tiếng: “Có người mới ra trận, chưa bắn được phát súng nào đã bị thương, thành thương binh, được ưu tiên này nọ. Còn tôi, trải qua hàng chục năm chiến trận, từng làm đến chức chỉ huy trung đoàn, hòn tên mũi đạn tránh xa, không bị hề xây xát, không bị thương. Ai có công hơn ai? Vì sao tôi không được ưu tiên?”. Cô mậu dịch viên bị bất ngờ, mặt đỏ lên, chắc là cáu lắm, nhưng nhìn thấy cái ông đang nói lớn kia cao to phương phi như phi công Mỹ, cũng chờn chợn, chưa biết làm gì thì có người đứng bên cạnh nói nhỏ: “Nhà thơ Quang Dũng đấy! Thôi, ưu tiên bán cho ông ấy một hai vại đi!”. Thế là nhà thơ Quang Dũng hớn hở hai tay cầm hai vại bia hơi đi ra, hể hả lắm! Hồn ma nhà thơ ở dưới suối vàng liệu có khi nào nhớ đến chuyện đó không? Ngày nay, nếu nhà thơ sống lại, chắc hẳn sẽ thành “siêu thượng đế”, muốn uống hết bia hơi của cả một quán nào đó cũng được chiều ngay, chỉ sợ không đủ sức, đủ bụng chứa bia thôi!...
Bia & người - buồn, vui lãng đãng...
Bia hơi thời đó giá chỉ có 3 hào một vại 0,5 lít. Cốc bia bằng thủy tinh đúng 0,5 lít, to như cái vại, nâng lên lâu mà không uống chắc... mỏi rời rã tay, chứ không như bây giờ gian dối “ăn bớt” xuống còn khoảng 0,3- 0,35 lít, để 1 lít bia rót đầy ứ được tới 3 vại...
Dù “bia hơi 3 hào”, rẻ thôi, song cũng rất hiếm hoi, MDQD độc quyền bán bia, nên sinh nhiều chuyện kỳ quặc. Khách đông, bia ít, cái sự lộn xộn thường xuyên xảy ra, lại thêm không khí nóng hừng hực của tiết trời mùa hè, của cái khối người hăm hở, lồng lên vì vại bia mát lạnh, nên nụ cười trên môi của các cô mậu dịch viên... hiếm hơn cả bia hơi, mặt mũi lạnh như bom bia, nói cộc lốc cứ như dao băm thớt, thậm chí mắng khách xơi xơi như mắng thằng ăn cắp! Có lẽ vì vậy, người dân gọi MDQD là “mắng dân quát dân” phần nào xuất phát từ quán bia hơi cùng với các cửa hàng gạo, thực phẩm? Hồi đó ai mà bắt quen được với cô mậu dịch viên bán bia hơi, bán gạo, bán thịt cá ắt sung sướng hạnh phúc lắm! Ngay cả bà bán bia “tiền mãn kinh” cũng được coi như... “nữ hoàng”!
Thế rồi, của hiếm là của quý, tất sinh sự bán kèm- chuyện thường ngày không riêng ở các “chuồng cọp” bia hơi Hà Nội. Bia kèm lạc, kèm nộm, bia kèm đậu rán, bia pha si-rô... y chang lấy được cô chị đẹp làm vợ phải đèo bòng thêm cô em dở người! Mà những thứ bán kèm với bia đó có ngon lành gì cho cam, âu cũng là “thèm bia phải kèm đồ hẩm” mà thôi!...
Nói của đáng tội, thời bao cấp, cái gì cũng phải tem phiếu, các “chuồng cọp” lấy đâu ra lắm thịt thà cá mú, lợn gà trâu bò, để làm được nhiều món nhắm cho dân uống bia thưởng thức. Vì vậy, đến các “chuồng cọp”, người ta uống là chính, ăn là phụ. Đồ nhắm tại các “chuồng cọp” giản dị thôi, gói lạc rang húng lìu, dúm lạc luộc, đĩa nộm đu đủ nho nhỏ, con mực nướng bé tẹo bằng bàn tay trẻ con, đĩa đậu phụ rán hay luộc lỏng chỏng dăm ba miếng... xong! Ai sang trọng lắm cũng chỉ cầm được... cái cổ vịt hoặc chân vịt luộc gầy khẳng khiu, da bọc xương, sung sướng, mãn nguyện lắm rồi!... Thi thoảng ai đó đùm một nắm tóp mỡ rán mua của mậu dịch đóng thành bánh, khô cứng, khen khét, mang ra uống bia, quá ngon!
Còn nhớ, hối đó ở “chuồng cọp” Nguyễn Bỉnh Khiêm có hai chị em gái chuyên bán đậu phụ rán, cổ vịt quay và mực nướng. Cô chị tên là Oanh- giới “đệ tử bia bọt” gọi là “Oanh toét” vì mắt bị lông quặm, nước mắt suốt ngày ướt nhèm, trông toen toét, bẩn bẩn. “Oanh toét” có người yêu tên là “Huy điên”, cả hai đều có dáng giống nhau: gầy dét, cao lòng khòng, dáng đi... lệu dệu, trống rất vất vả, nghe nói họ yêu nhau được mấy năm thì “Huy điên” bị “Oanh toét”... đá! Thế nhưng, cổ vịt quay (hình như chuyên quay trộm ở đâu đó, làm công khai là bị... tịch thu ngay) của chị em nhà “Oanh toét” lại rất ngon, mềm, thơm. Khách cầm chiếc cổ vịt không to lắm (có người gọi là vịt... thiếu niên), gằm gặm, nhấm nháp một chút, tợp một ngụm bia... tuyệt cú mèo! Đặc biệt, cô em gái của “Oanh toét” hát nhạc vàng tuyệt hay. Ai đã một lần thưởng thức cô hát bài “Nỗi buồn hoa phượng”, “Đồi sim tím”... với giọng thổn thức, ướt át chẳng khác ca sĩ Thanh Tuyền của Sái Gòn, ắt không thể nào quên! Đôi khi cô vừa nướng mực cho khách vừa khẽ khàng hát một vài câu: “Có ai đã từng nhặt hoa thấy buồn... Màu hoa phượng thắm như máu con tim...”, “Ôi, ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ, ôi đồi sim tím, chay xa tít, lan dần theo bóng tối...”... Tiếng hát ngọt nhẹ lẩn quất trong khói than nướng mực thơm thơm, khiến không ít kẻ nghiền bia hơi mà si tình phải lay động con tim, cảm mến cô gái trẻ đã sớm phải lam lũ kiếm sống!...
Có lẽ vì ít món nhắm, lại chẳng cao lương mỹ vị gì nên giới bia bọt hồ đó phần nhiều chỉ uống bia hơi xuông rồi... về nhà ăn cơm rau muống với vợ! Của đáng tội, thật ra, thời đó lương trung bình của CBCNVC chỉ có 36- 45 đồng. Ngày nào cũng chỉ cần uống 2 vại bia hơi, chắc chắn một nửa tháng lương sẽ bay theo... hơi bia, đành tùng tiệm vậy! Dân ham uống bia lắm khi đi qua “chuồng cọp” phải nuốt nước bọt phóng xe đạp cho nhanh, thoát mau khỏi mùi “bia- mực” thơm nồng quyến rũ hơn cả... quyến rũ!
Có một thứ mà quán bia hơi ở Hà Nội lúc nào, ở đâu cũng có khiến dân uống bia mê mẩn: Lạc rang húng lìu của mấy ông “phá-xang” Tàu, người guộc gầy, đầu đội mũ phớt dạ cũ méo mó bạc màu, quần áo lôi thôi, vai đeo lủng lẳng cái hòm gỗ cũ, kẹp nách cái chân hòm cũng bằng gỗ. ông “phá-xang” xuất hiện, giang cái chân hòn thành hình chữ “X” ra, đặt hòm lên, mở nắp. Ai hô mua, tay ông thoăn thoắt cuộn tờ giấy báo nhỏ thành hình “sâu kèn”, thò tay vào cái túi vải bao tải trong hòm, bốc ra một nắm lạc rang sẵn thả vào cái “sâu kèn”, đưa cho khách, cái mũ phớt hơi cúi nghiêng kính cẩn “cám ơn”! Lạc giá khá rẻ, cái “sâu kèn” nhỏ chỉ 1 hào, loại to cũng chỉ 2- 3 hào. Những hạt lạc nóng hổi, áo lạc màu nâu sẫm, thơm phức mùi hùng lìu, ai trước khi ăn cũng phải đưa qua lên mũi ngửi, lấy hai ngón tay khẽ khàng bóp, áo lạc vụn vỡ, bay lả tả xuống vạt áo, hạt lạc tròn mẩy giòn tan, mười hạt đều tăm tắp cả mười, phảng phất mùi hương húng lìu thơm nhè nhẹ như hương trinh nữ! Hà Nội chỉ có dăm ông “phá-xang” lưu động, “chuồng cọp” nào cũng có mặt, thậm chí chỉ vài thùng bia thả xuống vỉa hè cửa một cơ quan nào đấy, bán lẻ thật nhanh, khách chưa kịp đưa vại bia lên miệng đã thấy một hai ông xuất hiện như từ trên trời rơi xuống! Không rõ các ông “phá-xang” lấy thông tin ở đâu mà nhanh thế? Có người còn đùa rằng, các ông chẳng khác mấy tay tình báo chuyên nghiệp! Ngày nay chắc các ông đã về trời hết cả! Không biết trên đó có quán bia hơi không để các ông “bán lạc làm vui”?...
Nửa thế kỷ qua đi, những “chuồng cọp” bia hơi ngày xưa chỉ còn trong trí nhớ. Ngày nay, ở Hà Nội, bên cạnh bia hơi Hà Nội có nhiều chủng loại bia cho “đệ tử bia bọt” chọn lựa theo khẩu vị và túi tiền, sang trọng thì bia Đức, bia Tiệp, bia Pháp... bình dân thì bia Sài Gòn, bia tươi, bia hơi Hải Hà, nghèo nữa có bia hơi “thương binh”... Đặc biệt, đi đến đâu cũng thấy có “bia hơi Hà Nội”- kể cả chính hiệu lẫn “đánh lận”. Song, người Hà Nội sành ăn sành uống, ở đâu bán bia hơi Hà Nội “chuẩn”, ngon, giá hợp lý, ắt sẽ đông khách, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo! Bây giờ bước vào quán bia nào cũng có hàng chục, hàng trăm món ăn, đủ kiểu, đủ loại, quyển thực đơn dầy cộp, thịt cá ê hề, lẩu lớn lẩu bé, bình dân vô biên, đặc sản sông biển, rừng núi tùm lum, ngẫm thấy... ngậm ngùi thương “bia hơi 3 hào” ngày xưa lắm lắm!...
Có người nói: Trong cuộc sống thường ngày bình dị, về thời trang và ẩm thực, Hà Nội có hai ấn tượng khó phai, đó là tà áo dài mềm mại thướt tha kiều diễm và vại bia hơi Hà Nội mát lạnh ngất ngây say. Đến ngày nay, hai ấn tượng ấy không những không phai nhạt mà ngày càng sâu đậm thêm không chỉ riêng với người Hà Nội.
Phải chăng sẽ là mãi mãi?
Phương Quang








