Một tình khúc đáng nghe

Chung — Viết bởi phuongquang @ 10:23

Hứng khởi một thời "bia hơi 3 hào"

Chung — Viết bởi phuongquang @ 21:53

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

 Hứng khởi một thời “bia hơi 3 hào”

Có không ít người từng hùng hồn khẳng định: Trong cuộc sống thường ngày bình dị, về ẩm thực, Hà Nội có một ấn tượng khó phai: Đó là những vại bia hơi Hà Nội mát lạnh ngất ngây say. Bia hơi đã làm nên một nét văn hóa Hà Nội... Nhưng, đã có ai từng ngồi trước cốc bia hơi Hà Nội, ngắm nhìn những giọt bong bóng li ti bay lên từ đáy cốc hòa nhập và biến mất trong lớp bọt trắng mịn màng gợi cảm trên bề mặt bia, nhấm nháp hương vị thơm mát và tự hỏi: Bia hơi Hà Nội có từ khi nào?

Khởi thủy giòng...say

Giới “đệ tử... bia bọt” đất Hà Thành truyền tụng cho nhau nhiều lắm về “lịch sử” Nhà máy bia Hà Nội. Nào là nơi đó có nguồn nước đặc biệt, người Pháp phải khoan thăm dò ba bốn chục chục điểm ở Hà Nội, chỉ có nơi đó có nước tốt nhất để làm bia, không thua kém nước ở Tiệp, ở Pháp, Đức, chỉ cần uống nước khoan thôi đã... sướng tê người! Nào là nơi đó ngày xưa khá đẹp, Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu mỗi khi về Hà Nội đã dạo chơi quanh đó, hôn nhau thắm thiết, nhà máy bia mọc lên để kỷ niệm của những nụ hôn thắm thiết của đôi “uyên ương” đặc biệt đó! Nào là... nào là... đủ thứ “khảo dị” ở chốn “nhất bia nhì giời”!

Cũng chẳng cần biết quá rõ làm gì cho mệt cái đầu đang “nóng vì... bia”, chỉ cần biết cái nhà máy bia Hà Nội hiện nay nằm ở đường Hoàng Hoa Thám được khai sinh vào năm 1890, tuổi đời vượt quá con số 100- xứng đáng bậc “lão ông chi... bia”!

Theo tài liệu còn lưu giữ tại Tổng công ty Bia- rượu- nước giải khát Hà Nội, năm 1890, có cặp vợ chồng người Pháp lần mò tìm hiểu rồi mở một xưởng làm bia nhỏ trên núi Voi (thuộc làng Đại Yên, Ngọc Hà, Hà Nội), tên khởi thủy là nhà máy bia Hommel- nơi ngày nay là nhà máy bia Hà Nội. Thời kỳ đó, Hommel nhỏ xíu, chỉ có vài chục công nhân làm vỏn vẹn 150 lít bia hơi/ngày. Tới năm 1940, Hommel mỗi năm rót ra cho toàn cõi Đông Dương tới 5 triệu lít, chủ yếu vẫn là bia hơi... Sau năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, Hommel thuộc về tay chính quyền Hà Nội trong tình trạng “tả tơi”. Từ đầu năm 1957, Hommel được hồi sinh với tên gọi Nhà máy bia Hà Nội. Ngày 1/5/1958, mẻ bia nấu thử đầu tiên do ông Vũ Văn Bộc- một công nhân lành nghề của Hommel cũ- thực hiện thành công với sự giúp đỡ của chuyên gia Tiệp Khắc. Ngày 15/8/1958, mẻ bia chính thức đầu tiên tuôn chảy tỏa hương thơm nồng ngây ngất say, được đóng chai với cái tên: Bia Trúc Bạch. Sau đó, dòng bia các loại (bia hơi, bia chai, bia lon) với nhiều tên gọi: Hồng Hà, Hà Nội, Trúc Bạch, Hữu Nghị...- liên tục chảy ra thị trường, trong đó bia hơi được chào đón nhiệt tình nhất, dần dần trở thành một “nét văn hóa” đáng yêu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Hà Nội, một ấn tượng khó phai cho bất kỳ du khách thập phương nào đã một lần đặt chân tới Thủ đô.

Sang thế kỷ thứ 21, Công ty bia Hà Nội trở thành người khổng lồ: Tổng công ty Bia- Rượu- Nước giải khát Hà Nội, mỗi năm tuôn trào ra thị trường 70- 80 triệu lít bia các loại. Có lẽ ngay cả người Pháp- những người đầu tiên đã khơi tạo nguồn bia Hà Nội- cũng phải nghiêng mình ngưỡng mộ!

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

“Chuồng cọp” - hào hứng trong... gian nan

Ngày nay, ngồi thưởng thức “vô biên” những vại bia hơi Hà Nội trong các quán bia ngoài trời trong nhà rộng rãi, thoáng đãng, các quán bia sang trọng mà chỉ cách đây vài chục năm các “đệ tử bia bọt” nằm mơ cũng không thấy, nói chuyện bia “chuồng cọp” có lẽ giới trẻ sinh sau đẻ muộn không biết chiến tranh là gì chắc tưởng kể chuyện... thần thoại!

Còn với lớp người ngày nay bước vào tuổi “xưa nay hiếm” phải nhờ cậy đến “ba toong”, ắt không thể nào quên được cái thời thưởng thức bia hơi “chuồng cọp” tại Hà Nội đầy hứng thú mà cũng rất... gian nan ấy!

Không biết ai trong giới bia bọt đã nghĩ ra cái từ “chuồng cọp” khủng khiếp đó để đặt tên cho các quán bia hơi Hà Nội, nơi hứng khởi thưởng thức một thứ nước uống thơm ngon làm say lòng người? Phải chăng họ liên tưởng tới những chuồng hổ, chuồng báo trong Bách Thảo hồi đó? Gọi mãi rồi thành quen miệng.

Tại Hà Nội thời đó, các “chuồng cọp” bán bia hơi Hà Nội không nhiều, chỉ một vài “chuồng” nổi danh: Nguyễn Bỉnh Khiêm (gần công viên Thống Nhất), Cổ Tân (bên cạnh Nhà hát lớn), vườn hoa Lê Quý Đôn, Trần Hưng Đạo (sát cạnh nhà vệ sinh công cộng)... hầu như lúc nào cũng đông chật khách. Cũng chỉ có duy nhất “lò” Nhà máy bia Hà Nội rót bia hơi cho các “chuồng cọp”.

Kể ra gọi là “chuồng cọp” cũng phần nào đúng thực tế bởi các quán bia ở Hà Nội trong những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ trước đều mang đậm nét... sắt thép! Quán bia nào cũng có hàng rào sắt kiên cố bao quanh, cứ như thể là để phòng ngừa các “đệ tử bia bọt” sau khi có dăm vại bia vào bụng, bị “ma men” khuấy đảo khiến trở thành... cọp dữ! Phòng cọp hơn chống cọp, không gì chắc chắn hơn rào sắt! Trong những hàng rào sắt kiên cố đó là bãi bia. Gọi là “bãi bia” vì bàn ghế rất hiếm hoi.

“Chuồng cọp” Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu như chỉ có vài chiếc bàn chân sắt gỉ nhoèn đen sì, mặt bàn bằng đá granito sứt sẹo, nham nhở như... bàn tay ghẻ ruồi bân bẩn, khách uống bia... đứng là chính. Nhiều khách phải rút dép nhựa ra kê mông ngồi bệt xuống bãi cỏ lưa thưa, đặt bia trước mặt, tựa lưng vào hàng rào sắt, ngâm nga thưởng thức, thi thoảng lại lững thững đến cửa hầm “tăng-sê” ở góc “chuồng cọp” tự nhiên vô tư... xả bớt bia trong người ra!

“Chuồng cọp” Cổ Tân, Lê Quý Đôn “sang” hơn, có thêm dăm chiếc ghế đẩu chân cũng bằng sắt, để lỏng chỏng, cập kênh, khách vào uống bia cứ trợn mắt nhớn nhác tìm ghế, lắm khi cãi nhau vì chiếc ghế!...

Thế rồi, bia ít, người nhiều, kiếm được cốc bia phải chen chúc, xếp hàng chờ đợi, cũng mất cả cốc đầy... mồ hôi! Vậy nên, các “chuồng cọp” phát huy hết khả năng sáng tạo, đã thiết kế một hành lang ngoằn ngoèo hình chữ chi bằng những thanh sắt kiên cố, nhỏ hẹp chỉ vừa đi lọt một người, cốt để các “vị thành... cọp” phải xếp hàng trật tự, khó chen ngang. Có hai hành lang sắt như vậy, một cho người bình thường, một để ưu tiên thương binh. Lúc ấy mà ai có cái thẻ thương binh màu đỏ là... oách lắm, vừa không phải xếp hàng quá dài, vừa mua được nhiều bia hơn. Không hiếm cảnh một ông thương binh nào đó “chơi ngông” mua cả chục vại, ngồi bệt xuống cạnh hàng rào sắt, xếp cả dẫy vại bia trước mặt, nhẩn nha uống từng vại một trước sự... thèm thuồng của đám người rồng rắn xếp hàng dài loằng ngoằng!

Vẫn chưa yên tâm, có nơi như “chuồng cọp” Trần Hưng Đạo (ở cận kề nhà vệ sinh công cộng) có sáng kiến giăng sợi dây thép suốt theo hành lang sắt luồn những miếng “tích-kê” bằng sắt, người mua bia trả tiền, tay nắm lấy miếng sắt gỉ lem nhem đó (mỗi cốc là một miếng, mỗi người chỉ được mua 2-3 cốc), kéo tuột dần theo sợi dây thép đến chỗ rót bia- một diệu kế hoàn hảo triệt tiêu hoàn toàn cái sự chen ngang, mua hộ!...

Thế nên mới có câu chuyện vui (có người bảo chuyện do mấy ông nhà văn nhà thơ bịa ra trong lúc “trà dư, bia hậu”): Cố nhà thơ Quang Dũng hồi đó cũng thích bia hơi, tuy tửu lượng yếu, chỉ uống được một hai vại thôi. Một hôm, giữa mùa hè nóng nực, ông tới một “chuồng cọp”, thấy người xếp hàng rồng rắn. Ngay cả phía ưu tiên cho thương binh cũng đông nghẹt. Kiểu này khó mua nổi một vại bia để xua đi cái nóng, cái khát của mùa hè! Không lẽ cả một thời hào hùng oanh liệt “Tây tiến” chiến thắng gian khổ, không sợ hy sinh, kẻ thù phải khiếp sợ... bây giờ lại chịu thua, đầu hàng ở quán bia hơi bé xíu này chăng? Nhà thơ bèn xông lên, đứng ở ngay chỗ rót bia. Cô mậu dịch viên cau mày, xua tay đuổi quầy quậy, bắt ông xuống xếp hàng. Quang Dũng lớn tiếng: “Có người mới ra trận, chưa bắn được phát súng nào đã bị thương, thành thương binh, được ưu tiên này nọ. Còn tôi, trải qua hàng chục năm chiến trận, từng làm đến chức chỉ huy trung đoàn, hòn tên mũi đạn tránh xa, không bị hề xây xát, không bị thương. Ai có công hơn ai? Vì sao tôi không được ưu tiên?”. Cô mậu dịch viên bị bất ngờ, mặt đỏ lên, chắc là cáu lắm, nhưng nhìn thấy cái ông đang nói lớn kia cao to phương phi như phi công Mỹ, cũng chờn chợn, chưa biết làm gì thì có người đứng bên cạnh nói nhỏ: “Nhà thơ Quang Dũng đấy! Thôi, ưu tiên bán cho ông ấy một hai vại đi!”. Thế là nhà thơ Quang Dũng hớn hở hai tay cầm hai vại bia hơi đi ra, hể hả lắm! Hồn ma nhà thơ ở dưới suối vàng liệu có khi nào nhớ đến chuyện đó không? Ngày nay, nếu nhà thơ sống lại, chắc hẳn sẽ thành “siêu thượng đế”, muốn uống hết bia hơi của cả một quán nào đó cũng được chiều ngay, chỉ sợ không đủ sức, đủ bụng chứa bia thôi!...

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Bia & người - buồn, vui lãng đãng...

Bia hơi thời đó giá chỉ có 3 hào một vại 0,5 lít. Cốc bia bằng thủy tinh đúng 0,5 lít, to như cái vại, nâng lên lâu mà không uống chắc... mỏi rời rã tay, chứ không như bây giờ gian dối “ăn bớt” xuống còn khoảng 0,3- 0,35 lít, để 1 lít bia rót đầy ứ được tới 3 vại...

Dù “bia hơi 3 hào”, rẻ thôi, song cũng rất hiếm hoi, MDQD độc quyền bán bia, nên sinh nhiều chuyện kỳ quặc. Khách đông, bia ít, cái sự lộn xộn thường xuyên xảy ra, lại thêm không khí nóng hừng hực của tiết trời mùa hè, của cái khối người hăm hở, lồng lên vì vại bia mát lạnh, nên nụ cười trên môi của các cô mậu dịch viên... hiếm hơn cả bia hơi, mặt mũi lạnh như bom bia, nói cộc lốc cứ như dao băm thớt, thậm chí mắng khách xơi xơi như mắng thằng ăn cắp! Có lẽ vì vậy, người dân gọi MDQD là “mắng dân quát dân” phần nào xuất phát từ quán bia hơi cùng với các cửa hàng gạo, thực phẩm? Hồi đó ai mà bắt quen được với cô mậu dịch viên bán bia hơi, bán gạo, bán thịt cá ắt sung sướng hạnh phúc lắm! Ngay cả bà bán bia “tiền mãn kinh” cũng được coi như... “nữ hoàng”!

Thế rồi, của hiếm là của quý, tất sinh sự bán kèm- chuyện thường ngày không riêng ở các “chuồng cọp” bia hơi Hà Nội. Bia kèm lạc, kèm nộm, bia kèm đậu rán, bia pha si-rô... y chang lấy được cô chị đẹp làm vợ phải đèo bòng thêm cô em dở người! Mà những thứ bán kèm với bia đó có ngon lành gì cho cam, âu cũng là “thèm bia phải kèm đồ hẩm” mà thôi!...

Nói của đáng tội, thời bao cấp, cái gì cũng phải tem phiếu, các “chuồng cọp” lấy đâu ra lắm thịt thà cá mú, lợn gà trâu bò, để làm được nhiều món nhắm cho dân uống bia thưởng thức. Vì vậy, đến các “chuồng cọp”, người ta uống là chính, ăn là phụ. Đồ nhắm tại các “chuồng cọp” giản dị thôi, gói lạc rang húng lìu, dúm lạc luộc, đĩa nộm đu đủ nho nhỏ, con mực nướng bé tẹo bằng bàn tay trẻ con, đĩa đậu phụ rán hay luộc lỏng chỏng dăm ba miếng... xong! Ai sang trọng lắm cũng chỉ cầm được... cái cổ vịt hoặc chân vịt luộc gầy khẳng khiu, da bọc xương, sung sướng, mãn nguyện lắm rồi!... Thi thoảng ai đó đùm một nắm tóp mỡ rán mua của mậu dịch đóng thành bánh, khô cứng, khen khét, mang ra uống bia, quá ngon!

Còn nhớ, hối đó ở “chuồng cọp” Nguyễn Bỉnh Khiêm có hai chị em gái chuyên bán đậu phụ rán, cổ vịt quay và mực nướng. Cô chị tên là Oanh- giới “đệ tử bia bọt” gọi là “Oanh toét” vì mắt bị lông quặm, nước mắt suốt ngày ướt nhèm, trông toen toét, bẩn bẩn. “Oanh toét” có người yêu tên là “Huy điên”, cả hai đều có dáng giống nhau: gầy dét, cao lòng khòng, dáng đi... lệu dệu, trống rất vất vả, nghe nói họ yêu nhau được mấy năm thì “Huy điên” bị “Oanh toét”... đá! Thế nhưng, cổ vịt quay (hình như chuyên quay trộm ở đâu đó, làm công khai là bị... tịch thu ngay) của chị em nhà “Oanh toét” lại rất ngon, mềm, thơm. Khách cầm chiếc cổ vịt không to lắm (có người gọi là vịt... thiếu niên), gằm gặm, nhấm nháp một chút, tợp một ngụm bia... tuyệt cú mèo! Đặc biệt, cô em gái của “Oanh toét” hát nhạc vàng tuyệt hay. Ai đã một lần thưởng thức cô hát bài “Nỗi buồn hoa phượng”, “Đồi sim tím”... với giọng thổn thức, ướt át chẳng khác ca sĩ Thanh Tuyền của Sái Gòn, ắt không thể nào quên! Đôi khi cô vừa nướng mực cho khách vừa khẽ khàng hát một vài câu: “Có ai đã từng nhặt hoa thấy buồn... Màu hoa phượng thắm như máu con tim...”, “Ôi, ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ, ôi đồi sim tím, chay xa tít, lan dần theo bóng tối...”... Tiếng hát ngọt nhẹ lẩn quất trong khói than nướng mực thơm thơm, khiến không ít kẻ nghiền bia hơi mà si tình phải lay động con tim, cảm mến cô gái trẻ đã sớm phải lam lũ kiếm sống!...

Có lẽ vì ít món nhắm, lại chẳng cao lương mỹ vị gì nên giới bia bọt hồ đó phần nhiều chỉ uống bia hơi xuông rồi... về nhà ăn cơm rau muống với vợ! Của đáng tội, thật ra, thời đó lương trung bình của CBCNVC chỉ có 36- 45 đồng. Ngày nào cũng chỉ cần uống 2 vại bia hơi, chắc chắn một nửa tháng lương sẽ bay theo... hơi bia, đành tùng tiệm vậy! Dân ham uống bia lắm khi đi qua “chuồng cọp” phải nuốt nước bọt phóng xe đạp cho nhanh, thoát mau khỏi mùi “bia- mực” thơm nồng quyến rũ hơn cả... quyến rũ!

Có một thứ mà quán bia hơi ở Hà Nội lúc nào, ở đâu cũng có khiến dân uống bia mê mẩn: Lạc rang húng lìu của mấy ông “phá-xang” Tàu, người guộc gầy, đầu đội mũ phớt dạ cũ méo mó bạc màu, quần áo lôi thôi, vai đeo lủng lẳng cái hòm gỗ cũ, kẹp nách cái chân hòm cũng bằng gỗ. ông “phá-xang” xuất hiện, giang cái chân hòn thành hình chữ “X” ra, đặt hòm lên, mở nắp. Ai hô mua, tay ông thoăn thoắt cuộn tờ giấy báo nhỏ thành hình “sâu kèn”, thò tay vào cái túi vải bao tải trong hòm, bốc ra một nắm lạc rang sẵn thả vào cái “sâu kèn”, đưa cho khách, cái mũ phớt hơi cúi nghiêng kính cẩn “cám ơn”! Lạc giá khá rẻ, cái “sâu kèn” nhỏ chỉ 1 hào, loại to cũng chỉ 2- 3 hào. Những hạt lạc nóng hổi, áo lạc màu nâu sẫm, thơm phức mùi hùng lìu, ai trước khi ăn cũng phải đưa qua lên mũi ngửi, lấy hai ngón tay khẽ khàng bóp, áo lạc vụn vỡ, bay lả tả xuống vạt áo, hạt lạc tròn mẩy giòn tan, mười hạt đều tăm tắp cả mười, phảng phất mùi hương húng lìu thơm nhè nhẹ như hương trinh nữ! Hà Nội chỉ có dăm ông “phá-xang” lưu động, “chuồng cọp” nào cũng có mặt, thậm chí chỉ vài thùng bia thả xuống vỉa hè cửa một cơ quan nào đấy, bán lẻ thật nhanh, khách chưa kịp đưa vại bia lên miệng đã thấy một hai ông xuất hiện như từ trên trời rơi xuống! Không rõ các ông “phá-xang” lấy thông tin ở đâu mà nhanh thế? Có người còn đùa rằng, các ông chẳng khác mấy tay tình báo chuyên nghiệp! Ngày nay chắc các ông đã về trời hết cả! Không biết trên đó có quán bia hơi không để các ông “bán lạc làm vui”?...

Nửa thế kỷ qua đi, những “chuồng cọp” bia hơi ngày xưa chỉ còn trong trí nhớ. Ngày nay, ở Hà Nội, bên cạnh bia hơi Hà Nội có nhiều chủng loại bia cho “đệ tử bia bọt” chọn lựa theo khẩu vị và túi tiền, sang trọng thì bia Đức, bia Tiệp, bia Pháp... bình dân thì bia Sài Gòn, bia tươi, bia hơi Hải Hà, nghèo nữa có bia hơi “thương binh”... Đặc biệt, đi đến đâu cũng thấy có “bia hơi Hà Nội”- kể cả chính hiệu lẫn “đánh lận”. Song, người Hà Nội sành ăn sành uống, ở đâu bán bia hơi Hà Nội “chuẩn”, ngon, giá hợp lý, ắt sẽ đông khách, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo! Bây giờ bước vào quán bia nào cũng có hàng chục, hàng trăm món ăn, đủ kiểu, đủ loại, quyển thực đơn dầy cộp, thịt cá ê hề, lẩu lớn lẩu bé, bình dân vô biên, đặc sản sông biển, rừng núi tùm lum, ngẫm thấy... ngậm ngùi thương “bia hơi 3 hào” ngày xưa lắm lắm!...

Có người nói: Trong cuộc sống thường ngày bình dị, về thời trang và ẩm thực, Hà Nội có hai ấn tượng khó phai, đó là tà áo dài mềm mại thướt tha kiều diễm và vại bia hơi Hà Nội mát lạnh ngất ngây say. Đến ngày nay, hai ấn tượng ấy không những không phai nhạt mà ngày càng sâu đậm thêm không chỉ riêng với người Hà Nội.

Phải chăng sẽ là mãi mãi?

Phương Quang


Chuyện trà dư tửu hậu

Chung — Viết bởi phuongquang @ 22:54

Hễ quá là...hỏng!

Thời Chiến quốc, vua Tề uy vương thích vui chơi tiệc tùng xa hoa. Một hôm Tề Uy vương đặt tiệc mời Thuần Vu Khôn- một biện sĩ nổi tiếng khôi hài- cho uống rượu.

Rượu ngà ngà, Tề uy vương hỏi:

- Tiên sinh uống được bao nhiêu rượu thì say?”.

Khôn đáp:

- Thần uống một đấu cũng say, một hộc cũng say! (một hộc bằng mười đấu).

Tề uy vương nói:

- Tiên sinh uống một đấu đã say thì uống làm sao được một hộc? Tiên sinh có thể cho biết tại sao không?.

Khôn tâu:

- Nếu cho uống rượu trước mặt Đại vương, có quan chấp pháp đứng bên cạnh, quan ngự sử nấp sau lưng, Khôn sợ hãi cúi đầu mà uống, chỉ mới một đấu đã say. Nếu cha mẹ có khách quý, Khôn vén áo khom lưng hầu rượu, thi thoảng ban cho mấy giọt rượu thừa, lại phải bưng chén chúc thọ, phải đứng lên hầu rượu luôn, như thế chỉ hai đấu đã say. Còn như bạn bè chơi bời lâu ngày không gặp nhau, bỗng nhiên gặp gỡ, mừng rỡ kể chuyện cũ, có thể uống được năm đấu mới say. Nhưng đến ngày hội ở nhà quê, trai gái ngồi lẫn lộn, mời rượu dằng dai, túm năm tụm ba, nắm tay nhau không ai phạt, mắt nhìn nhau chẳng ai cấm, đằng trước có cái hoa tai đánh rơi, đằng sau có cái trâm bị bỏ sót, Khôn trộm lấy thế làm vui, có thể uống tám đấu cũng chỉ say hai phần. Khi trời chiều tiệc vãn, dồn chén ngồi kề, gái trai cùng chiếu, chén bàn bừa bãi, trên thềm tắt đuốc, chủ nhân giữ Khôn ở lại mà tiễn khách ra về, áo là cởi bỏ, thoáng thấy mùi hương thơm phức, lúc bấy giờ lòng Khôn rất vui, có thể uống một hộc chưa say. Vì vậy, nói rượu quá hóa loạn, vui quá hóa buồn, muôn việc đều thế, hễ quá thì hỏng!

Vua Tề nói: “Hay”, bèn bãi bỏ tiệc tùng thâu đêm.


Những kinh nghiệm nghề báo sống mãi với thời gian

Chung — Viết bởi phuongquang @ 23:23

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

 

Một hành trang cho những ai đam mê nghề báo

Đối thoại với nhà báo là một cuốn sách báo chí thể loại phỏng vấn. Ở đây tác giả phỏng vấn các nhà báo trên nhiều lĩnh vực (nội chính, kinh tế, văn hóa-nghệ thuật, thị trường-tiêu dùng, chứng khoán…), đa loại hình (tạp chí, báo in, báo nói, báo hình, báo ảnh và báo điện tử), đa dạng tờ báo, nhằm tiến tới kỷ niệm 84 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam. Các bài viết này đa phần đã đăng dài kỳ trên các báo và tạp chí.

Phỏng vấn là một thể loại hấp dẫn với nhiều đối tượng. Ở đây, đối tượng phỏng vấn là các nhà báo, nên người phỏng vấn đã hết sức năng động, sáng tạo để thích ứng và xứng với đối tượng được phỏng vấn.

Qua Đối thoại với nhà báo, người đọc thấy và hiểu một cách khái quát về nghề báo, biết thế nào là lao động phóng viên, công việc của biên tập viên, rồi phó, trưởng ban đến thư ký tòa soạn, phó và tổng biên tập. Những suy tư, lo lắng, trăn trở, chia sẻ, dấn thân là những trải nghiệm đáng quý (theo cách của từng người) mà những người làm báo cách mạng (các đối tượng phỏng vấn trong sách) đã đúc kết được từ thực tế cuộc sống nghề nghiệp, nó có thể như một hành trang cho những ai đam mê hoặc cho các bạn trẻ mới vào nghề. Ở đây, người đọc cũng có thể đồng cảm cùng những kỷ niệm, nỗi niềm của những nhà báo yêu thích nhưng chưa có dịp giao lưu. Người đọc cũng có thể rút tỉa kinh nghiệm tự học, học tập không ngừng để không bị bỏ lại phía sau, học được những kinh nghiệm để đối phó những tình huống bất trắc thường xảy ra trên bước đường viễn du…

Tuổi thọ của mỗi bài báo thật ngắn ngủi, bởi sự kiện cứ luôn đổi mới, nhưng ngòi bút của các nhà báo tâm huyết và những kinh nghiệm nghề nghiệp của họ thì vẫn sống mãi với thời gian. Đọc Đối thoại với nhà báo, người đọc có cái nhìn rõ nét hơn, cụ thể hơn công việc của các nhà báo. Và qua đó sẽ hiểu được rằng tai sao nghề báo được xem là nghề nguy hiểm, để biết rằng làm báo là một công việc khó khăn. Các bài báo nhiều khi có tác động rất lớn, tạo ra những hiệu quả có ích cho xã hội song cũng nhiều khi phản tác dụng, gây tai hại khôn lường.

Nhà báo Duy Khanh đã có một tập sách bổ ích cho người làm báo.

Đinh Phong  


Miền Quê thương nhớ!

Chung — Viết bởi phuongquang @ 23:29

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire 

 Đoản văn

Miền quê thương nhớ!

Chỉ còn hơn chục cây số nữa thôi là ông về tới làng- cái làng quê nghèo thương khó nơi ông được sinh ra, lớn lên, từ đó ra đi. Cảm giác hồi hộp, nao nao cứ dâng dần lên. Ông nhắm hờ đôi mắt già nua, trong tâm trí hiện về lộn xộn những hình ảnh mơ hồ xa xưa lâu lắm rồi...

Chiều thu muộn, sương giăng mờ lành lạnh, con đường làng mấp mô, khấp khểnh, lồi lõm vết chân trâu, quanh co giữa những bụi duối xanh rậm, những hàng cúc tần lơ thơ dăm sợi tơ hồng... Mái rạ xác xơ theo mưa nắng quện vương khói bếp. Mảnh sân đất nho nhỏ, manh chiếu cũ xỉn đen rách tướp trải vội, chiếc mâm gỗ sứt mẻ chỏn lỏn bát canh cua, đĩa cà muối xổi, nhúm tép rang mặn, nồi cơm gạo mới chín tới thơm lừng, bữa cơm chiều quê nghèo khó qua mau trong ánh đèn dầu vàng vọt chập chờn... Dân quê hiếm hoi những ngày an nhàn, thảnh thơi. Ngày đông tháng giá, bàn chân trần lội ruộng cóng buốt, tê dại. Mùa hè, cánh đồng chang chang nắng lửa, áo nâu sờn rách ướt sũng mồ hôi, chỉ thèm gáo nước giếng mát lạnh... Ở nơi đó có người con gái thuở nào đôi mắt tròn đen láy hạt nhãn lồng...

Xe về tới đầu làng, ông choàng tỉnh. Cây gạo già nua đầu làng vẫn còn đó, bên cạnh gốc gạo có quán nước nhỏ xiêu xiêu lợp lá tơ tướp xỉn màu.

Ông ngập ngừng bước vào quán. Bà già bán nước đăm đăm nhìn ông, khẽ khàng: “Chắc ông không nhớ tôi đâu. Tôi nhận ra ông từ ngoài kia. Có dễ đến hơn hai chục năm ông mới về làng”. Chén trà nâng lên chưa kịp nhấp môi bỗng sóng sánh, nghiêng tràn nước nóng bỏng bàn tay run run. Đôi mắt xưa... mấy chục năm rồi, đã mờ đục vẫn nhận ra ông, thế mà... “Nghe nói ông bây giờ làm gì to lắm, giàu lắm. Người làng đi xa ít ai tốt số như ông”. Ông ngượng nghịu, gượng cười, đứng lên. Bà đâu có biết, tháng sau ông phải ra hầu tòa, ông về quê lần này chắc hẳn sẽ phải nhiều năm nữa ông mới quay về được, cũng có thể đây là lần cuối cùng. Ôi, miền quê thương nhớ! Ông nuốt tiếng thở dài!

Đứng trước mấy ngôi mộ được xây cất to đẹp nhất nghĩa trang, ông run run châm lửa nắm hương to, chia cắm lên từng ngôi mộ, đứng lặng phắc. Khói hương bảng lảng, vật vờ xung quanh ông già cao lớn, đầu hói, còn một chút tóc bạc xõa xuống vai áo khẽ lay động trong gió nghĩa trang lành lạnh. Không hiểu ông nghĩ gì?

PQ


CD mới nhất các tình khúc của Đoàn Chuẩn

Chung — Viết bởi phuongquang @ 22:15

“Gửi người em gái miền Nam”

Guitar Hawaii & Saxophone đồng cảm với mùa thu

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Một ý tưởng khá lạ, thậm chí khó nghe: Hòa tấu giữa Guitar Hawaii và Saxophone. Thế mà hai nghệ sĩ Đoàn Đính (Guitar Hawaii) và Phan Anh Dũng (Saxophone) đã khiến cho “dây” và “hơi” trò chuyện, tâm sự, đồng cảm với nhau qua các nhạc phẩm thời tiền chiến của cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trong CD “Gửi người em gái miền Nam” mới ra mắt người yêu nhạc. Một cuộc trò chuyện ngắn với hai nghệ sĩ “chơi lạ” này có thể mang lại đôi điều lý thú cho độc giả.

Cơ quyên nào đưa hai anh đến với nhau? Phải chăng chất keo gắn kết hai người chính là âm nhạc của Đoàn Chuẩn?

Phan Anh Dũng (PAD): Tôi và anh Đoàn Đính đã nhiều lần chơi nhạc với nhau trong các đêm nhạc kỷ niệm ngày sinh của một số nhạc sĩ thời kỳ tiền chiến. Năm 2004, anh Đoàn Đính đã nói với tôi ý định thực hiện thu thanh một album âm nhạc của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn nhưng chưa có dịp thực hiện. Phải đến năm 2008, khi xem tôi biểu diễn trên truyền hình thì anh Đoàn Đính mới quyết tâm thực hiện ý tưởng đã ấp ủ từ lâu. Tình cờ đầu năm 2009, tôi gặp lại anh Đính. Anh nhắc lại chuyện cũ mời tôi biên tập và phối khí cho một album, tôi đã vui vẻ nhận lời.

Từ đâu các anh có ý tưởng “xe duyên” cây đàn Guitar Hawaii với cây kèn Saxophone vào một đĩa nhạc? Có lẽ đây là cuộc “hôn nhân” đặc biệt giữa cây kèn Saxophone và đàn Guitar Hawaii?

PAD: Lúc đầu tôi chỉ giữ vai trò biên tập album, nhưng sau khi thu thanh được hai bài thì anh Đoàn Đính mời tôi chơi nhạc hoà tấu với anh trong album. Tôi đã suy nghĩ và thấy hai nhạc cụ này nếu chơi cùng nhau trong một album cũng là một ý tưởng hay nên đã đồng ý. Đây là album hòa tấu giữa Saxophong và Guitar Hawaii đầu tiên tại Việt Nam.

Âm nhạc chủ đạo của CD “Gửi người em gái miền Nam”? Các ca khúc trong CD được phối khí thế nào, ai thực hiện?

PAD: Các tình khúc trong album phần lớn được sáng tác trước năm 1954, mang đậm chất nhạc thời kỳ tiền chiến. Tôi đã mời hai anh em song sinh Phan Kiên- Phan Cường phối khí. Trong album nay có tới một nửa các bản nhạc chúng tôi chơi với tiết tấu Blue với những khúc ngẫu hứng sở trường của tôi.

CD này có gì đặc biệt, nói cách khác, những giai phẩm của Đoàn Chuẩn trong CD có gì đáng chú ý, ấn tượng?

Đoàn Đính: Album lần này tôi đưa một phần bút tích bản nhạc “Gửi người em gái miền Nam” lên bìa đĩa để mọi người hiểu rõ hơn về tên đầy đủ của bản nhạc. Ngoài ra, tôi và Phan Anh Dũng cùng hòa tấu bản nhạc “Ánh trăng mùa thu”- một bản nhạc mà gia đình tôi tìm lại được hồi năm 2002. Đã từng có một thời, Guitar Hawaii làm rung động biết bao con tim người yêu nhạc.

Phải chăng CD lần này là một sự “phục sinh” cây đàn Guitar Hawaii lâu nay im lặng trên sân khấu âm nhạc?

Đoàn Đính: Những người chơi đàn Guitar Hawaii thế hệ chúng tôi đều đã bước vào tuổi “lục tuần”, thời gian không còn nhiều để sống với niềm đam mê cho nên album này cũng là một mong muốn Guitar Hawaii được nhiều người biết đến và yêu mến.

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Thiên hạ đồn rằng, anh Đoàn Đính là một người “đam mê” hết mình với cây đàn Guitar Hawaii, thích thì chơi bằng được, được thì chơi bằng thích?

Đoàn Đính: Vâng. Tôi có thú sưu tầm những cây đàn Guitar Hawaii và các CD hòa tấu Guitar Hawaii. Qua tay tôi đã có đến 10 cây đàn Guitar Hawaii, trong đó có những cây đàn của hãng đàn Nhạc Sơn nổi tiếng đất Hà thành khoảng những năm 1920.

Chưa hết, xung quanh những cây đàn Guitar Hawaii của anh Đoàn Đính có nhiều chuyện ly kỳ?

Đoàn Đính: Tất cả các tình khúc trong album “Gửi người em gái miền Nam” đều được thu thanh trên cây đàn Guitar Hawaii hai cần hiệu Fender- Mỹ loại 8 dây. Cây đàn này tôi đã nhờ nhạc sĩ chơi Guitar Hawaii Phạm Mạnh Đạt mua tại Mỹ với giá bằng một chiếc xe hơi. Nói đến đây tôi chợt nhớ vào khoảng năm 1958, cha tôi đã từng đổi một chiếc xe Ford- Mỹ lấy một cây đàn Guitar Hawaii ba cần. Trong dịp sang nước Anh năm 2006, tại một của hàng bán nhạc cụ, tôi đã nhìn thấy một chiếc ghế hiệu Fender dùng cho các nghệ sĩ ngồi chơi đàn rất quý. Tôi quyết tâm mua bằng được chiếc ghề này. Sau 3 lần “đàm phán”, tôi đã có chiếc ghế đó trong tay nhưng với điều kiện là phải mua kèm theo hai cây đàn Guitar khác.

Theo Phan Anh Dũng, bao nhiêu tuổi thì có thể học chơi Saxophone, giá của một cây kèn Saxophone trung bình là bao nhiêu?

PAD: Với một người có thể trạng bình thường thì 10- 12 tuổi là có thể học Saxophone được rồi. Với 5 triệu đồng bạn có thể sở hữu một cây kèn Saxophone Trung Quốc và 20 triệu đồng thì ta có thể sở hữu được một cây kèn trung bình có xuất xứ từ Nhật Bản hoặc Mỹ.

Lâu nay, nhắc đến Phan Anh Dũng người ta thường nói “Dũng- sax- jazz”. Trong CD, Dũng có đưa jazz vào các giai phẩm của Đoàn Chuẩn?

PAD: Có chứ. Trong album có hai bản nhạc là “Tình nghệ sĩ” và “Gửi người em gái miền Nam” được tôi thu thanh theo phong cách Jazz- Pop. Sau khi nghe phần nhạc đệm tôi đã thu thanh từ những năm trước, anh Đoàn Đính rất thích thú, đề nghị tôi giữ nguyên để thu thanh và sau đó tôi đã cùng ban nhạc thu thanh phần nhạc đệm các bài “Thu quyễn rũ”, “Cánh hoa duyên kiếp”... theo phong cách Jazz- Pop

Tên CD rất... Đoàn Chuẩn, rất “Việt”, nhưng thiết kế mỹ thuật có vẻ hơi... “Tây”, các anh có nhận thấy điểu đó?

Đoàn Đính: Phần lớn những sáng tác của cha tôi đều nói về mùa thu. Mùa thu trong ông không khắc khoải, tuyệt vọng, cô đơn mà nó là... thu quyễn rũ, thu của trời xanh, thu của những tà áo xanh và những lá thư tình màu xanh, mùa thu có lá vàng rơi... vì vậy màu chủ đạo của phần bìa đĩa album này cũng mang đậm sắc thu.

Hình như các ca khúc của Đoàn Chuẩn chỉ có những người đã bước vào tuổi “tri thiên mệnh” ưa thích?

Đoàn Đính: Đúng thế! Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sáng tác bản nhạc đầu tiên “Ánh trăng mùa thu” năm 1947; “Tình nghệ sĩ” năm 1948. Lúc đó ông chỉ khoảng 24 tuổi cho nên các tình khúc này đã “đọng sâu” trong ký ức của những người cùng thời và vang mãi đến ngày nay.

Là người đã từng thực hiện nhiều CD âm nhạc, theo Phan Anh Dũng, CD “Gửi người em gái miền Nam” có chinh phục được người yêu nhạc?

PAD: Chắc chắn rồi. Người nghe sẽ thích thú khi nghe Saxophone và Guitar Hawaii trò chuyện, tâm sự, đồng cảm với nhau về mùa thu như những người bạn tri âm thực sự.

Số lượng CD dự kiến phát hành?

Đoàn Đính: 5000 bản trong hai năm.

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire 

Sau CD này, Phan Anh Dũng có làm tiếp CD khác của riêng mình?

PAD: Từ nay tới cuối năm tôi còn phải hoàn thành một album 8 bản nhạc cho một nhạc sĩ trong Hội nhạc sĩ Việt Nam. Sau đó, tôi chuẩn bị cho Jazz show kỷ niệm 10 năm ngày tôi chơi Jazz show đầu tiên tại rạp Công nhân (Hà Nội) nên khó có thể thực hiện thêm một album nữa trong thời gian tới.

Từ liveshow “Giai điệu xanh 2002”, đã lâu không thấy Dũng sax làm liveshow, vì sao vậy?

PAD: Chơi một show diễn đích thực không khó nhưng tìm ra một ý tưởng mới cho đêm nhạc thì là cả một vấn đề lớn. Nhưng xin các bạn hãy đón xem nhé, tôi sẽ thực hiện một đêm diễn “ra trò” vào cuối năm nay đấy!

Cảm ơn hai nghệ sĩ!  (Xem tiếp)